Công cụ làm việc cá nhân


TÀI LIỆU CƠ BẢN VỀ TRUNG QUỐC VÀ QUAN HỆ TRUNG QUỐC - VIỆT NAM

I/. VỀ TRUNG QUỐC:
1. Khái quát chung:
- Tên nước: nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa (The People's Republic of China).

- Ngày quốc khánh: 01-10-1949.

- Vị trí địa lý: Trung Quốc nằm ở phần nửa phía Bắc của Đông bán cầu, phía Đông Nam đại lục Á - Âu, phía Đông và giữa châu Á, phía Tây của Thái Bình Dương; có biên giới chung với Nga, Mông Cổ (phía Bắc), với Kazakstan, Kirgizstan, Tajikistan (phía Tây), với Afghanistan, Pakistan, Ấn Độ, Nê-pan, Bu-tan (phía Tây Nam), với Myanma, Lào, Việt Nam (phía Nam), với Triều Tiên (phía Đông).

- Diện tích: 9,6 triệu km2

- Khí hậu: Trung Quốc thuộc khu vực gió mùa, khí hậu đa dạng từ ấm đến khô. Nhiệt độ trung bình toàn quốc tháng 1 là -4,70C, tháng 7 là 260C. 3 khu vực được coi nóng nhất là Nam Kinh, Vũ Hán, Trùng Khánh.

- Dân số: hơn 1,3 tỷ người.

- Dân tộc: Trung Quốc có 56 dân tộc. Dân tộc Hán là chủ yếu, các dân tộc thiểu số (chiếm 6% dân số cả nước và phân bố trên 50-60% diện tích toàn quốc).

- Hành chính: gồm 31 tỉnh, thành phố, trong đó có 22 tỉnh, 5 khu tự trị và 4 thành phố trực thuộc Trung ương. Ngoài cấp hành chính Trung ương, Trung Quốcc còn có 4 cấp hành chính gồm tỉnh, địa khu, huyện, xã. Thủ đô: Bắc Kinh.

- Tôn giáo: Có 4 tôn giáo chính là Phật giáo, Đạo giáo, Đạo Hồi, Thiên chúa giáo.

- Ngôn ngữ: Tiếng Hán phổ thông lấy âm Bắc Kinh làm tiêu chuẩn.

2. Khái quát về lịch sử:

Người vượn Bắc Kinh xuất hiện cách đây 50.000 năm, là người nguyên thuỷ sống trên đất Trung Quốc. Trung Quốc đã trải qua các chế độ xã hội:

Công Xã nguyên thuỷ: người động Kim Sơn cách đây 10.000 năm, thuộc thời kỳ mẫu hệ.

- Chế độ nô lệ: thời kỳ nhà Hạ (thế kỷ 21 – 16 trước công nguyên) và nhà Thương (thế kỷ 16 – 11 trước công nguyên)

- Chế độ phong kiến: bắt đầu từ Tây Chu (thế kỷ 11 trước công nguyên) đến chiến tranh thuốc phiện lần thứ nhất (1840):

Nhà Chu gồm Tây Chu (thế kỷ 11 – 771 trước công nguyên) và Đông Chu (thế kỷ 770 – 220 trước công nguyên) là thời phong kiến cát cứ;

Nhà Tần (từ năm 221 – 207 trước công nguyên): lần đầu tiên thống nhất Trung Quốc, thiết lập nhà nước phong kiến tập quyền Trung ương;

Nhà Hán (từ 206 trước công nguyên - 220): Mở rộng tập quyền Trung ương sang phía Tây, mở ra con đường tơ lụa từ Trường An (Tây An) - Tân Cương - Địa Trung Hải; 

Nhà Tuỳ (581 – 618): thống nhất Trung Quốc lần thứ 2;

Nhà Đường (618 - 907): thời kỳ hưng thịnh nhất trong các triều đại phong kiến Trung Quốc;

Nhà Tống: (960 - 1279): mở rộng ảnh hưởng và thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hoá ở phía Nam;

Nhà Nguyên (1271-1368): mở rộng và thống nhất cả Mông Cổ, Tân Cương, Tây Tạng, Vân Nam;

Nhà Minh (1368 – 1644): chuyển Thủ đô về Bắc Kinh; xuất hiện công trường thủ công mầm mống của tư bản chủ nghĩa; hình thành các đội tàu viễn dương, nổi tiếng là Thái giám Trịnh Hoà với hành trình viễn dương tới bờ phía Đông châu Phi.   

Nhà Thanh (1644 - 1911): người Mãn phía Đông Bắc Trung Quốc nổi lên nắm chính quyền, thực hiện chế độ phong kiến tập quyền cao độ. Tuy nhiên, từ sau chiến tranh thuốc phiện lần thứ nhất (năm 1840), Trung Quốc rơi vào thời kỳ “nửa phong kiến, nửa thuộc địa”. 

- Trung Hoa dân quốc (1911 – 1949): ngày 10/10/1911 cách mạng Tân Hợi do Tôn Trung Sơn lãnh đạo lật đổ chính quyền nhà Thanh, thành lập nhà nước Trung Hoa Dân Quốc; nhưng sau đó Trung Quốc rơi vào nội chiến.

- Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa: từ 1-10-1949 đến nay.

3. Thể chế nhà nước, Đảng phái chính trị và Lãnh đạo chủ chốt:

- Thể chế nhà nước: Theo hiến pháp Trung Quốc, nước CHND Trung Hoa là nước Xã hội Chủ nghĩa của nền chuyên chính nhân dân, do giai cấp công nhân lãnh đạo, lấy liên minh công nông làm nền tảng. Chế độ Xã hội Chủ nghĩa là chế độ cơ bản của Trung Quốc. Chuyên chính nhân dân là thể chế của nhà nước. Cơ cấu Nhà nước bao gồm: Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc (Quốc hội), Chủ tịch nước, Quốc Vụ viện (Chính phủ), Uỷ ban Quân sự Trung ương, Toà án Nhân dân tối cao và Viện Kiểm sát Nhân dân tối cao, Đại hội Đại biểu Nhân dân, Chính phủ và toà án các cấp ở địa phương.

- Đảng cầm quyền: Đảng Cộng sản Trung Quốc thành lập ngày 1-7-1921, hiện có 73 triệu Đảng viên. Bộ Chính trị có 25 người, trong đó có 9 Ủy viên thường vụ, Ban Bí thư Trung ương Đảng có 6 người.

Ngoài Đảng Cộng sản, Trung Quốc còn có 8 đảng phái khác, đều thừa nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong khuôn khổ "hợp tác đa đảng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản", bao gồm: Hội Cách mạng dân chủ, Liên minh dân chủ, Hội Kiến quốc dân chủ, Hội Xúc tiến dân chủ, Đảng Dân chủ  công nông, Đảng Chí công, Cửu tam học xã và Đồng minh tự trị dân chủ Đài Loan.

Hội nghị Chính trị Hiệp thương Trung Quốc là tổ chức chính trị - xã hội rất quan trọng của trung Quốc, có chức năng, vai trò tương tự như Mặt trận tổ quốc của ta.

- Lãnh đạo chủ chốt:

Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước CHND Trung Hoa, Chủ tịch Uỷ ban Quân sự Trung ương ĐCS Trung Quốc, Chủ tịch Uỷ ban Quân sự Trung ương Nhà nước Trung Quốc: Hồ Cẩm Đào

Thủ tướng Quốc Vụ viện nước CHND Trung Hoa: Ôn Gia Bảo

Uỷ viên trưởng Uỷ ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân toàn quốc nước CHND Trung Hoa (Chủ tịch Quốc Hội): Ngô Bang Quốc

Chủ tịch Hội nghị Hiệp thương chính trị nhân dân toàn quốc nước CHND Trung Hoa (Chủ tịch Chính hiệp): Giả Khánh Lâm

Bộ trưởng Ngoại giao nước CHND Trung Hoa: Dương Khiết Trì.

4. Về đối nội:

a) Mục tiêu chiến lược và các bước phát triển của Trung Quốc.

- Đại hội 15 Đảng cộng sản Trung Quốc (9/1997) đưa ra cương lĩnh xây dựng phát triển kinh tế Trung Quốc đầu thế kỷ 21 với 3 bước lớn: (i) Đến năm 2010, tăng gấp đôi GDP so với năm 2000, nâng cao đời sống nhân dân từ mức khá giả lên giàu có; (ii) Đến năm 2020, kinh tế quốc dân phát triển hơn và các chế độ hoàn thiện hơn; (iii) Đến năm 2049, cơ bản hoàn thành hiện đại hoá, TQ trở thành nước XHCN giầu mạnh, dân chủ, văn minh.

 - Đại hội 16 Đảng Cộng sản Trung Quốc (11/2002) nêu rõ mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 là xây dựng toàn diện xã hội khá giả với các tiêu chí: GDP năm 2020 tăng 4 lần so với năm 2000; dân chủ và pháp chế XHCN hoàn thiện hơn; tố chất đạo đức, tư tưởng, khoa học, văn hoá, sức khỏe của người dân được nâng cao rõ rệt; năng lực phát triển bền vững được tăng cường. Hội nghị Trung ương 5 khóa 16 (10/2005) và Kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa 10 (3/2006) thông qua “Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm lần thứ 11” (2006 – 2010), nêu mục tiêu của giai đoạn 2006 - 2010 là duy trì tốc độ tăng GDP khoảng 7,5%/năm; giảm tiêu hao năng lượng/GDP khoảng 20%; giảm chất thải ô nhiễm 10%.

Đại hội 17 ĐCS Trung Quốc (10/2007) đặt ra những yêu cầu mới, cao hơn đối với sự phát triển của Trung Quốc, theo "Quan điểm phát triển khoa học", thay đổi phương thức phát triển, với phương châm “vừa tốt vừa nhanh”, cải thiện cơ cấu kinh tế, nâng cao hiệu quả, giảm tiêu hao năng lượng, bảo vệ môi trường, thực hiện mục tiêu GDP bình quân/đầu người đến năm 2020 tăng gấp 4 lần so với năm 2000; đề ra 8 phương hướng, nhiệm vụ chính của chiến lược phát triển: (1) Nâng cao năng lực tự chủ sáng tạo, xây dựng quốc gia theo mô hình sáng tạo; (2) Đẩy mạnh thay đổi phương thức phát triển kinh tế, thúc đẩy cải thiện và nâng cấp cơ cấu ngành nghề; (3) Quy hoạch tổng thể sự phát triển giữa thành thị và nông thôn; (4) Tăng cường tiết kiệm tài nguyên năng lượng và bảo vệ môi trường sinh thái, bảo đảm phát triển bền vững; (5) Thúc đẩy phát triển hài hòa giữa các khu vực, cải thiện việc khai thác sử dụng đất đai; (6)  Hoàn thiện chế độ kinh tế cơ bản, kiện toàn hệ thống thị trường hiện đại; (7)  Đi sâu cải cách thể chế tài chính, thuế, tiền tệ, hoàn thiện hệ thống điều tiết vĩ mô; (8)  Mở rộng và đi sâu mở cửa đối ngoại, nâng cao trình độ kinh tế theo mô hình mở cửa.

b) Một số thành tựu chính:

Sau 30 năm cải cách mở cửa, Trung Quốc đạt được nhiều thành tựu to lớn về phát triển kinh tế - xã hội: GDP tăng trưởng bình quân hàng năm 9,8%, năm 2008 đạt 30.067 tỷ NDT (hơn 4400 tỷ USD), vượt Đức lên vị trí thứ 3 thế giới; ngoại thương Trung Quốc từ 20,6 tỷ USD, xếp thứ 32 thế giới năm 1978 vươn lên thứ 3 thế giới vào năm 2004, năm 2008 đạt 2561,6 tỷ USD; FDI từ 916 triệu USD năm 1983 lên 860 tỷ USD  vào năm 2008, dự trữ ngoại tệ hiện nay đạt 1950 tỷ USD, cao nhất thế giới. Về khoa học và công nghệ, Trung Quốc phóng thành công tàu vũ trụ có người lái, vệ tinh thăm dò mặt trăng và tên lửa phá huỷ vệ tinh.

5. Về đối ngoại:

Trung Quốc khẳng định kiên trì đi theo con đường phát triển hòa bình. Với thế và lực không ngừng gia tăng, Trung Quốc nêu cao ngọn cờ “xây dựng thế giới hài hoà, Châu Á hài hoà”, tích cực tham gia vào các vấn đề quốc tế như biến đối khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, giảm đói nghèo, các điểm nóng khu vực, phát huy vai trò nước lớn “có      trách nhiệm”; Trung Quốc ưu tiên duy trì ổn định quan hệ với Mỹ, tăng cường quan hệ với Nga, Ấn Độ, Brazin; đẩy mạnh quan hệ với Nhật Bản, mở rộng hợp tác với EU; tăng cường ảnh hưởng ở Đông Nam Á, Châu Phi, Mỹ La tinh… Với khu vực, Trung Quốc đặt trọng tâm vào các nước láng giềng xung quanh, đẩy mạnh chính sách “mục lân, an lân, phú lâm”(hữu nghị với láng giềng, yên ổn với láng giềng và làm giầu với các nước láng giềng), xây dựng khuôn khổ quan hệ láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện và ổn định lâu dài với các nước ở các mức độ khác nhau. Đồng thời, tích cực tham gia vào các cơ chế hợp tác khu vực, liên khu vực như ASEAN +1, ASEAN +3, Cấp cao Đông Á, Tổ chức hợp tác Thượng Hải (SCO), APEC, đề xướng và đẩy mạnhh triển khai khu mậu dịch tự do Trung Quốc – ASEAN (CAFTA).

II/ QUAN HỆ VIỆT-TRUNG

Kể từ khi bình thường hoá quan hệ năm 1991 đến nay, quan hệ hữu nghị và hợp tác Việt - Trung phát triển nhanh chóng và sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực, đem lại nhiều lợi ích thiết thực cho cả hai bên. Đến nay, hai nước đã ký nhiều hiệp định cấp Chính phủ và các văn kiện hợp tác khác, đặt cơ sở pháp lý cho quan hệ hợp tác lâu dài giữa hai nước. Hai bên đã khai thông đường hàng không, đường biển, đường bộ, đường sắt, tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưu hàng hoá và hành khách giữa hai nước. Trao đổi đoàn ở trung ương và địa phương ngày càng tăng, hàng năm hai bên trao đổi trên 100 đoàn ở cấp lãnh đạo các bộ, ngành và địa phương, đoàn thể quần chúng, góp phần tăng cường hiểu biết và mở rộng hợp tác giữa hai nước.

1. Quan hệ chính trị:

Hai bên xây dựng khuôn khổ quan hệ láng giềng hữu nghị, hợp tác lâu dài. Trong chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu tháng 2/1999, lãnh đạo cấp cao hai nước xác định phương châm 16 chữ thúc đẩy quan hệ hai nước trong thế kỷ 21 là "láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai". Dịp Chủ tịch nước Trần Đức Lương thăm Trung Quốc tháng 12/2000, hai bên ký Tuyên bố chung về hợp tác toàn diện trong thế kỷ mới, cụ thể hoá phương châm 16 chữ đó thành những biện pháp cụ thể phát triển quan hệ hai nước trên tất cả các lĩnh vực. Năm 2005, hai bên thoả thuận đưa quan hệ hai nước trở thành “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”. Đặc biệt, trong chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh tháng 5/2008, hai bên nhất trí phát triển “quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện” theo phương châm 16 chữ và tinh thần 4 tốt, đồng thời nhất trí thiết lập đường dây nóng giữa lãnh đạo cấp cao hai nước tạo cơ sở cho quan hệ hai nước phát triển ổn định, lâu dài trong thời gian tới.

- Lãnh đạo cấp cao hai nước duy trì đều đặn các chuyến thăm và gặp gỡ bên lề hội nghị quốc tế. Năm 2008, có các chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh (5/2008), Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết dự Lễ khai mạc Olympic Bắc Kinh (8/2008), Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thăm chính thức Trung Quốc và dự Hội nghị cấp cao ASEM (10/2008). Phía Trung Quốc có đoàn Ủy viên thường vụ Bộ Chính trị Chu Vĩnh Khang (10/2008) và một số đồng chí là Ủy viên Bộ Chính trị, lãnh đạo các Ban ngành địa phương thăm ta (Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư tỉnh Quảng Đông Uông Dương; Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thiên Tân Trương Cao Lệ; Phó Chủ tịch Quốc hội Trần Chí Lập; Ủy viên Quốc vụ, Bộ trưởng Bộ Công an Mạnh Kiến Trụ, Trưởng Ban liên lạc đối ngoại Đảng Cộng sản Trung Quốc Vương Gia Thụy…).

Trong các chuyến thăm, Lãnh đạo cấp cao hai nước nhấn mạnh tình hữu nghị Việt-Trung là tài sản quý báu của hai nước và nhân dân hai nước, cần được hết sức giữ gìn và không ngừng vun đắp; khẳng định sẽ làm hết sức mình để đưa quan hệ đó ngày càng sâu sắc hơn, tin cậy hơn, cùng ủng hộ lẫn nhau trong sự nghiệp đổi mới, cải cách mở cửa và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở mỗi nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới.

- Hai bên thành lập Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam - Trung Quốc (11/2006) và đã tiến hành 2 phiên họp (phiên thứ 2 họp tại Bắc Kinh tháng 1/2008). Phiên họp thứ 3 dự kiến vào vào nửa đầu năm 2009 tại Việt Nam.

- Hợp tác giữa hai Đảng được đẩy mạnh. Hai bên duy trì trao đổi đoàn và thiết lập cơ chế hợp tác, giao lưu giữa các Ban Đảng. Từ cuối năm 2007, Trung Quốc tiếp tục thực hiện các chương trình bồi dưỡng, đào tạo cán bộ cho ta. Trong chuyến thăm Việt Nam của Trưởng ban liên lạc đối ngoại Trung Quốc Vương Gia Thụy,  hai bên trao đổi ý kiến về các biện pháp tăng cường giao lưu giữa các cơ quan hai Đảng trên các lĩnh vực đào tạo cán bộ, công tác xây dựng Đảng… Ngoài ra, hai Đảng đã tổ chức 4 cuộc hội thảo về lý luận, kinh nghiệm xây dựng Đảng, quản lý nhà nước, về đổi mới, cải cách mở cửa, hội nhập quốc tế (tháng 10/2008, tổ chức Hội thảo lý luận và thực tiễn về nông nghiệp, nông thôn, nông dân - Kinh nghiệm Việt Nam, kinh nghiệm Trung Quốc tại Nha Trang). Giao lưu giữa thế hệ trẻ 2 nước tiếp tục được duy trì (tháng 10/2008, đã diễn ra cuộc “Gặp gỡ hữu nghị thanh niên Việt Nam - Trung Quốc” lần thứ 8 với chủ đề Giao lưu hữu nghị Việt - Trung).

- Quan hệ giữa các ngành quan trọng như ngoại giao, an ninh, quốc phòng tiếp tục được tăng cường với việc ký các thỏa thuận hợp tác giữa hai Bộ Ngoại giao (12/2002), hai Bộ Công an (9/2003), hai Bộ Quốc phòng (10/2003); hai ngành An ninh (3/2005), Thoả thuận hợp tác biên phòng (8/2007) và Thỏa thuận về hợp tác giữa hai Tổng Cục chính trị Bộ Quốc phòng hai nước (12/2007). Năm 2008, hai bên trao đổi các đoàn quan trọng: Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Dương Khiết Trì thăm ta (4/2008); Ủy viên Quốc vụ, Bộ trưởng Bộ Công an Trung Quốc Mạnh Kiến Trụ thăm Việt Nam và dự “Hội nghị Bộ trưởng giữa Bộ Công an Việt Nam và Bộ Công an Trung Quốc về hợp tác phòng chống tội phạm lần thứ nhất”(12/2008); Tổng tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Nguyễn Khắc Nghiên thăm Trung Quốc (11/2008).

- Quan hệ giữa các địa phương hai bên cũng được tăng cường với nhiều hình thức đa dạng và thiết thực như trao đổi đoàn các cấp, ký kết các văn bản hợp tác, cùng nhau tổ chức hội thảo, triển lãm...

 Liên tiếp trong 5 năm kể từ năm 2004 đến nay, hàng năm lãnh đạo Quảng Tây đều sang thăm Việt Nam, trong đó gần nhất là chuyến thăm của Bí thư Khu uỷ Quảng Tây Quách Thanh Côn  (2-5/4/2008). Ngoài ra, Tỉnh trưởng Vân Nam Tần Quang Vinh (4/2007); Ủy viên BCT, Bí thư tỉnh Quảng Đông Uông Dương (9/2008); Ủy viên BCT, Bí thư Thiên Tân Trương Cao Lệ (11/2008) cũng đã thăm Việt Nam. Lãnh đạo ta cũng nhiều lần thăm các địa phương phía Nam của Trung Quốc như Vân Nam, Quảng Tây, Hải Nam .v..v.

Năm 2008, hai bên tiến hành phiên họp lần thứ nhất Ủy ban công tác liên hợp giữa 3 tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh với Quảng Tây tại Quảng Ninh và giữa 4 tỉnh Điện Biên, Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu với Vân Nam tại Lào Cai. Các tỉnh biên giới trao đổi biện pháp tăng cường hợp tác trên nhiều lĩnh vực cụ thể, chú trọng hiệu quả thiết thực, trong đó có việc xây dựng đường biên giới hai nước thành đường biên giới hoà bình, hữu nghị, ổn định và phát triển . Trong khuôn khổ hợp tác “hai hành lang, một vành đai kinh tế”, hai bên tổ chức hội nghị lần thứ 4 về hợp tác kinh tế giữa Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Lào Cai với Vân Nam, Trung Quốc.

 - Hiện nay ta có các Tổng lãnh sự quán tại Quảng Châu, Nam Ninh, Côn Minh, Hồng Kông. Tháng 11/2007,  Đại sứ quán ta tại Trung Quốc mở Văn phòng Lãnh sự tại Thượng Hải.

- Hai bên tích cực trao đổi, phối hợp lập trường trên nhiều vấn đề quốc tế và khu vực, đặc biệt là phối hợp trong HĐBA/LHQ kể từ khi Việt Nam là Ủy viên không thường trực HĐBA/LHQ.

2. Quan hệ kinh tế thương mại:

a) Về thương mại:

-  Từ năm 2004 đến nay, Trung Quốc liên tục là bạn hàng thương mại hàng đầu của Việt Nam. Năm 2007, kim ngạch mậu dịch hai nước đạt gần 16 tỷ USD, hoàn thành trước 3 năm mục tiêu nâng kim ngạch thương mại hai nước đạt 15 tỷ USD vào năm 2010. Năm 2008, kim ngạch mậu dịch song phương đạt 20,1 tỷ USD, tăng 40% so với năm 2007; đồng thời, hai bên nêu mục tiêu mới nâng kim ngạch thương mại song phương lên 25 tỷ USD vào năm 2010. Đi đối với việc duy trì đà tăng trưởng kim ngạch song phương, hai bên cũng tích cực tìm biện pháp cải thiện cán cân thương mại. Để thúc đẩy hơn nữa xuất nhập khẩu hàng nông sản và thực phẩm trong chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh (30/5-2/6/2008), hai bên ký kết Hiệp định kiểm dịch động vật và Hiệp định kiểm dịch thực vật.

Để triển khai thực hiện Hiệp định về phát triển sâu rộng quan hệ kinh tế thương mại, hiện nay hai bên đang tích cực hoàn tất để sớm ký kết "Quy hoạch phát triển 5 năm hợp tác kinh tế thương mại Việt - Trung" giai đoạn 2009 - 2013, xác định các lĩnh vực và dự án hợp tác trọng điểm, nâng cao hơn nữa quy mô và mức độ hợp tác kinh tế thương mại, đồng thời đưa ra một số giải pháp cụ thể, trong đó có các biện pháp hướng tới giải quyết vấn đề nhập siêu.

b) Về hợp tác đầu tư:

- Quan hệ hợp tác đầu tư có bước phát triển mới, nhiều tập đoàn lớn của Trung Quốc bày tỏ mong muốn đầu tư vào Việt Nam. Tính đến hết tháng 12/2008, Trung Quốc  đầu tư vào Việt Nam 628 dự án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký khoảng 2,197 tỷ USD, đứng thứ 16/84 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư trực tiếp vào Việt Nam.

- Trong những năm qua, Trung Quốc không ngừng tăng qui mô tín dụng ưu đãi dành cho Việt Nam. Hiện hai bên đang triển khai một số dự án hợp tác kinh tế lớn như Dự án xây dựng nhà máy khai thác và luyện đồng tại Sin Quyền; cải tạo nâng tạo nâng cấp nhà máy gang thép Thái Nguyên; phân đạm Hà Bắc; Nhà máy nhiệt điện Quảng Ninh Bình I, II; Nhà máy nhiệt điện Hải Phòng I, II; Dự án thông tin tín hiệu đường sắt các tuyến Hà Nội - Đồng Đăng, Hà Nội - Thái Nguyên, Hà Nội - Lào Cai và khu đầu mối Hà Nội; Dự án hiện đại hoá hệ thống thông tin tín hiệu đường sắt đoạn Vinh - thành phố Hồ Chí Minh, Nhà máy sản xuất phân đạm từ than cám Ninh Bình v.v…; Dự án viễn thông nông thôn; Dự án đường sắt nhẹ trên không tuyến Hà Nội - Hà Đông v.v… Hai bên cũng nhất trí tăng cường thúc đẩy các doanh nghiệp của hai nước hợp tác trong các lĩnh vực cơ sở hạ tầng, công nghiệp chế tạo, phát triển nguồn nhân lực, năng lượng, chế biến khoáng sản và các lĩnh vực quan trọng khác, tăng cường hợp tác các dự án trong khuôn khổ "Hai hành lang, một vành đai kinh tế" và các dự án lớn khác. Tháng 7/2008, Tập đoàn Công nghiệp than khoáng sản Việt Nam và Công ty Hữu hạn công trình quốc tế Nhôm Trung Quốc (CHALIECO) ký Hợp đồng EPC xây dựng Nhà máy Alumin, thuộc Dự án Tổ hợp Bauxit - nhôm Lâm Đồng trị giá 446 triệu USD.
Ngoài tín dụng ưu đãi, Chính phủ Trung Quốc còn hỗ trợ Việt Nam nhiều khoản viện trợ không hoàn lại dùng vào việc tổ chức các đoàn tham quan, khảo sát kinh nghiệm phát triển kinh tế xã hội ở Trung Quốc; trao đổi thanh thiếu niên; đầu tư trang thiết bị cho một số bệnh viện tại Việt Nam; xây dựng khu nhà ở Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh và Cung Hữu nghị Việt - Trung.

- Trung Quốc là thị trường nguồn du lịch lớn nhất của Việt Nam. Năm 2008 có hơn 650 ngàn lượt khách Trung Quốc đi du lịch Việt Nam.

3. Về biên giới lãnh thổ:

- Sau khi bình thường hoá quan hệ, năm 1993, hai bên ký Thoả thuận về các nguyên tắc cơ bản giải quyết các vấn đề biên giới lãnh thổ. Hai bên tiến hành đàm phán về 3 vấn đề: biên giới trên đất liền, phân định Vịnh Bắc Bộ và vấn đề trên biển (Biển Đông).

Đến nay, hai bên ký Hiệp ước về biên giới trên đất liền (1999); Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác nghề cá Vịnh Bắc Bộ (2000); Nghị định thư hợp tác nghề cá Vịnh 

 - Về biên giới trên đất liền: đến cuối năm 2008, hai bên hoàn thành công tác phân giới cắm mốc đúng thời hạn Lãnh đạo cấp cao hai nước đã thoả thuận; tổ chức Lễ chào mừng tại khu vực cửa khẩu Hữu nghị - Hữu nghị quan vào ngày 23/2/2009.

- Về Vịnh Bắc Bộ: hai Hiệp định về Vịnh Bắc Bộ (Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác nghề cá Vịnh Bắc Bộ) được triển khai tương đối thuận lợi, công tác quản lý đánh bắt và bảo vệ nguồn lợi dần đi vào nề nếp. Hai bên thỏa thuận tiếp tục thực hiện tốt hai Hiệp định này, thực hiện tốt công tác điều tra liên hợp nguồn thủy sản trong Vùng đánh chung và tuần tra chung giữa hải quân hai nước ở Vịnh Bắc Bộ, đẩy nhanh việc thực hiện "Thỏa thuận khung về hợp tác dầu khí trong vùng thỏa thuận tại Vịnh Bắc Bộ", thúc đẩy đàm phán về phân định khu vực ngoài cửa Vịnh (đã tiến hành 5 vòng đàm phán). 

- Về vấn đề biển Đông: hai bên nhất trí kiên trì thông qua đàm phán hoà bình để giải quyết các tranh chấp nhằm tìm kiếm một giải pháp cơ bản, lâu dài mà hai bên có thể chấp nhận được, trên cơ sở Công ước của LHQ về Luật biển năm 1982 và Tuyên bố về cách ứng xử ở biển Đông (DOC) ký giữa Trung Quốc và ASEAN. Hai bên nhất trí tăng cường hợp tác trong các lĩnh vực nghiên cứu khoa học, môi trường biển, tìm kiếm cứu nạn, khí tượng thủy văn...

Về hợp tác nghiên cứu khoa học giữa Philipin – Trung Quốc - Việt Nam ở biển Đông (JOMSRE), qua ba cuộc họp cấp chuyên viên tháng 1, tháng 3 và tháng 5/2008, các bên đạt được một số nhận thức chung về nguyên tắc, nội dung khảo sát và một số vấn đề về kỹ thuật liên quan tới khảo sát.

4. Trong những năm qua, quan hệ trao đổi, hợp tác giữa ta với Trung Quốc trong các lĩnh vực giáo dục đào tạo, văn hoá - thể thao được đẩy mạnh. Hàng năm, Trung Quốc tiếp nhận một số lượng đáng kể các học sinh, thực tập sinh và các đoàn thể thao của ta sang nghiên cứu, học tập và tập huấn tại Trung Quốc, đồng thời cử nhiều cán bộ, huấn luyện viên sang giúp ta trong công tác huấn luyện các môn thể thao. Hai bên trao đổi các đoàn biểu diễn nghệ thuật, tổ chức nhiều cuộc giao lưu văn hoá, thể thao, góp phần tăng cường tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước.

                                                                             Ngày 11  tháng 02  năm 2009

 


Copyright by VietNam Ministry of Foreign Affairs